Vì sao tham chiến ở VN, lính Mỹ không bao giờ lo thiếu đạn?

Lượng đạn dược Mỹ chuyển đến Việt Nam trung bình khoảng 40.000 tấn/tháng trong năm 1966, đến giữa năm 1968 số lượng đã vượt quá 100.000 tấn/tháng.

Khi Mỹ mở rộng can thiệp quân sự vào Việt Nam từ năm 1965, việc bảo đảm cung cấp đạn dược cho các hoạt động quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam bắt đầu trở thành một vấn đề quan trọng. Ban đầu, nhiệm vụ cung cấp đạn dược do đơn vị đặc biệt số 5 đồn trú tại Nha Trang và một đơn vị trực thăng tại Sài gòn đảm nhận.
Các kho lưu trữ tại sân bay Tân Sân Nhất từ thời Pháp để lại chỉ có khả năng lưu trữ tối đa khoảng 1.500 tấn đạn dược, trong khi đó giới hạn an toàn của các kho này chỉ khoảng 900 tấn. Căn cứ theo quyết định tại hội nghị Hawaii ngày 09-11/04/1965, Lữ đoàn Yểm Trợ 173 tại Okinawa, Nhật Bản được điều động đến Việt Nam nhằm bảo đảm cung cấp Tiếp vận cho các hoạt động của quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam.

Một phần tổng kho Long Bình, Biên Hòa, kho dự trữ đạn dược lớn nhất của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Một phần tổng kho Long Bình, Biên Hòa, kho dự trữ đạn dược lớn nhất của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Từ tháng 04-06/1965, công tác vận chuyển đạn dược đến Việt Nam rơi vào tình trạng hỗn loạn, đạn dược chất đống tại cảng Cam Ranh, việc di chuyện đạn đến các kho diễn ra hết sức chậm chạp. Trước tình hình đó, Mỹ đã thành lập thêm một đơn vị chuyên môn về đạn dược số 182.
Sự ra đời của đơn vị này đã giải quyết các vấn đề trong vận chuyện đạn dược, đến tháng 06/1966 đạn dược phục vụ cho quân đội đã được nhanh hơn . Kho tồn trử đạn dược chính cho quân đội Mỹ được thiếp lập ở 3 khu vực chính, Đà Nẵng phụ trách cung cấp đạn dược cho các hoạt động của quân đoàn I (vùng I chiến thuật), căn cứ ở Cam Ranh cung cấp cho quân đoàn II (vùng II chiến thuật), căn cứ ở Long Bình, Biên Hòa (đây là kho vũ khí lớn nhất của quân đội Mỹ ở Việt Nam) nhiệm vụ cung cấp đạn dược cho quân đoàn III (vùng 3 chiến thuật) cũng như yểm trợ cho các kho ở các khu vực khác khi cần thiết.
Đạn dược được vận chuyển đến Việt Nam từ các kho của quân đội Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương bằng đường biển, tập trung ở 3 hải cảng chính là Đà Nẵng, Cam Ranh và Sài Gòn. Từ đây, đạn dược sẽ được vận chuyển bằng đường bộ đến các kho lưu trữ trong khu vực.
Đạn pháo 175mm đang được vận chuyển từ tàu mẹ vào bờ bằng các xà lan.Lượng đạn dược được chuyển đến Việt Nam trung bình khoảng 40.000 tấn/tháng trong năm 1966, một năm sau số lượng đã tăng lên gần gấp đôi 75.000 tấn/tháng vào năm 1967. Đầu năm 1968 số lượng vận chuyển đã tăng lên đến 90.000 tấn/tháng, đến giữa năm 1968 số lượng đã vượt quá 100.000 tấn/tháng.
Việc vận chuyển đạn dược đến các đơn vị chiến đấu của quân đội Mỹ cũng như Quân Lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) được thực hiện đa số bằng máy bay, đặc biệt là trực thăng để cung cấp đạn dược cho các đơn vị chiến đấu trên chiến trường.
Cao điểm nhất vào năm 1970 tổng cộng có khoảng 12.000 máy bay đã được sử dụng cho các hoạt động vận tải đạn dược phục vụ cho các hoạt động của quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Trực thăng UH-1 và C123 và C130 là các loại máy bay chính trong chiến lược tiếp tế của Mỹ tại miền Nam Việt Nam.
Số lượng đạn dược vận chuyển bằng trực thăng ra chiến trường trong năm 1967 đạt khoảng 828.000 tấn, đến năm 1968 số lượng vận chuyển tăng lên đến 1.123.032 tấn, và vào năm 1969 số lượng vận chuyển lên đến 1.277.123 tấn.

Không vận là nguồn cung cấp đạn dược chủ yếu cho các hoạt động chiến đấu của quân đội Mỹ và VNCH trong chiến tranh Việt Nam.

Nhờ khả năng tiếp tế bằng đường không vận rất hùng hậu, quân đội Mỹ và QLVNCH không bao giờ phải lo lắng về vấn đề thiếu đạn trong lúc chiến đấu. Đặc biệt là trước khi ký hiệp định Paris 1973 và trước khi quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam.
Sau khi Quạn Đôi Mỹ giao lại trách nhiệm chiến đấu cho QLVNCH và với việc Việt Nam Hóa chiến tranh thì đạn dược cũng như quân trang, quân dụng bị hạn chế tối đa.

Và tháng Tư Đen Một Chín Bảy Lăm đến, chấm dứt cuộc chiến…..