Quân Phục, Cấp Hiệu, Huy Hiệu, Huy Chương từ Quân Đội Quốc Gia đến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Sau 30 tháng 4, 1975, chủ quyền đất nước mất vào tay Cộng Sản (Việt Cộng và CS Nga, Hoa), Chánh Quyền và Quân Lực VNCH không còn nữa. Ngày nay dù phải xa quê hương, hoàn cảnh đổi khác nhưng lý tưởng, chánh nghĩa người chiến sĩ một đời theo đuổi vẫn còn đó, Tổ Quốc- Danh Dự – Trách Nhiệm vẫn còn đó, Quê Hương- Dân Tộc vẫn còn đó. Con đường tranh đãu hôm nay dù mang một hình thái khác xưa nhưng mục tiêu vẫn nhằm tranh đãu cho nền Độc Lập, Dân Chủ, Tự Do thực sự, cho Hạnh Phúc, Thịnh Vượng muôn đời của toàn dân. Một điều khẳng định: chúng ta không bao giờ quên được Tổ Quốc, Đồng Bào vì khi vừa nghe tin những quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay mới đây Ải Bắc, Bản Giốc… vừa bị ‘bạo quyền cắt đất cầu phong’ hay những tài nguyên thiên nhiên bị cướp đoạt, dâng hiến… tức khắc tim ta nghẹn ngào, muốn đứng vùng lên… Điều này chứng tỏ chúng ta vẫn mãi mãi là chiến sĩ VNCH.

Ngày mai, khi công cuộc tranh đãu dành lại được chủ quyền từ tay CS cho toàn dân, nền đệ tam Cộng Hòa được thiết lập, Quân Lực VNCH được tái tổ chức thì câu chuyện về quân phục, cấp hiệu, phù hiệu… hôm nay chẳng là câu chuyện phiếm, cũng một trong trăm ngàn tài liệu cần đến.

Từ hơn hai ngàn năm trước, Đức Khổng Tử đã nói đến tầm quan trọng của nhung phục, đại ý Ngài dậy: ‘người tráng sĩ tự mình chưa đủ oai dũng khi lên yên chiến mã nếu như thiếu nhung y, giáp trụ, thiếu cờ hiệu, cờ lệnh…’ Bài viết xin được các chiến hữu, độc giả bổ sung, tha thứ vì hầu như hoàn toàn dựa vào trí nhớ giới hạn, nhận xét cá nhân. Chỉ xin được xem như câu chuyện ‘lính kể lính nghe’ trong những ngày bị cấm trại, cấm quân hay phép cuối tuần bị ‘cháy’.

Ngay khi Hiệp Ước Vịnh Hạ Long (ngày 5 tháng 6, 1948) được ký kết giữa đại diện chánh phủ Pháp và Việt Nam dưới sự chứng kiến của Quốc Trưởng Bảo Đại, chánh quyền Quốc Gia ra đời. Nước Việt Nam được Độc Lập, Thống Nhất nhưng vẫn còn nằm trong Liên Hiệp Pháp (LHP). Quân Đội Quốc Gia ngay sau đó được thành lập nhưng thực tế mới chỉ là một lực lượng quân sự, bán quân sự chiến đấu chống Việt Minh (CS) bên cạnh quân đội LHP. Cho đến những năm đầu thập niên 50, Bộ Tổng Tham Mưu (TTM) Quân Đội Quốc Gia vẫn còn nhiều Sĩ Quan (SQ) Pháp làm việc, nhiều đơn vị do SQ, HSQ Pháp chỉ huy, quyền chỉ huy tối cao còn thuộc Bộ Tổng Tư Lệnh Pháp và những Secteur, Sous-secteur (tiểu khu, chi khu chiến) của Pháp tại địa phương. Sau đó một số khu vực mới lần lần được trao trách nhiệm lại cho Quân Đội Quốc Gia (QĐQG) như những thí điểm. Thời gian đó, tất cả văn thư, danh xưng còn dùng Pháp ngữ từ État Major Général cho đến S.P (secteur postal) thay vì Bộ TTM hay K.B.C. Trong hoàn cảnh như vậy nên quân phục, cấp hiệu, phù hiệu… tương tợ như quân đi Pháp. Trên toàn lãnh thổ có 4 quân khu: Đệ Nhất Quân Khu (miền Nam), Đệ Nhị (miền Trung), Đệ Tam (miền Bắc), Đệ Tứ (Hoàng Triều Cương Thổ/ Sơn Cước). Lực lượng chính yếu gồm các tiểu đoàn B.V.N (Bataillon Vietnamien), tiểu đoàn Nhẩy Dù… Bên cạnh, chánh quyền địa phương cấp Phần, đứng đầu bởi vị Thủ Hiến có tư cách pháp nhân riêng, ngân sách riêng, quân đi riêng như Bảo Chính Đoàn (Bắc), Việt Binh Đoàn (Trung), Vệ Binh Hàng Tỉnh (Nam), Vệ Binh Sơn Cước, Ngự Lâm Quân, và những lực lượng giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên…
Quân Phục

Quân phục gồm lễ phục, quân phục làm việc, ra phố và chiến phục. Vào những năm đầu, quân phục chưa qui củ, luộm thuộm vì ngay cả quân phục quân đội Pháp cũng không hơn. Nhiều quân nhân mặc chemise vàng, quần trận (loại có túi rộng ngang đầu gối). Đến khi QĐQG chính thức thành lập (giữa 1950, thời Thủ Tướng Trần Văn Hữu và Tổng Trưởng Quốc Phòng Phan Huy Quát), quân phục mới được qui định tề chỉnh hơn. Lễ phục SQ ngoài mầu trắng, có mầu xanh đậm (mùa lạnh), mũ casquette. Lễ phục mầu nào thì phần trên mũ phù hợp theo (trắng, xanh, không kể mầu đỏ dành cho Hiến Binh). Quân phục làm việc tại các phòng sở, ra khỏi doanh trại (số 2) ‘gabardine’ hay ka-ki, ‘béret’ cùng màu vàng xám (trừ Nhẩy Dù đỏ, Thiết Giáp đen). Khi hành quân đều mặc đồ trận (treillis) mầu xanh ‘olive’, riêng Nhẩy Dù thêm áo ‘sô’ (saut) trông rất oai hùng.

Tới thời đệ nhất Cộng Hòa đại lễ phục SQ rất chỉnh tề, áo trắng dài, cổ cao, cúc (nút) vàng, thắt lưng đen, ‘casquette’ trắng, quần sậm, có sọc như các quân trường, có cả dạ phục. Còn tiểu lễ, quân phục số 2 mầu vàng, chiến phục gọn ghẽ hơn xưa. Nhớ lại sau hiệp định đình chiến 54, quân nhân ra phố mặc đồ tác chiến sẽ bị tuần cảnh bắt giữ ngay. Nhưng thời gian sau, chiến tranh trở lại quân phục vàng lần lần vắng bóng ngoại trừ SV hay khóa sinh quân trường. Chuyện trang phục của chúng ta ngày trước có nhiều điều rất trái mắt do sự tùy tiện nhất là từ cấp tướng lãnh. Một đại tướng vì gốc Dù nên mặc đại lễ thay vì đi casquette’, ông vẫn ‘sính’ đi ‘beret’ đỏ. Một vị lãnh đạo quốc gia, vì gốc phi công ‘anh dũng muôn đời’ nên cứ diện phi bào với hai sao để cho tướng 3, 4 sao phải nghiêm chào. Thêm một tướng biệt phái sang hành chánh thường mặc đồng phục bốn túi kiểu cán bộ, gặp tổng thống hay thủ tướng lại móc ngay 3 sao trong túi đeo lên ve áo thoải mái cứ như móc hộp quẹt zippo. Có một đô đốc, quần lại thích túm (gom) ống trông không giống một ai trong quân chủng… Vẽ lại vài ba hình ảnh mục đích cho bài viết thêm vui thôi vì thời phong kiến đã có câu ‘luật không áp dụng với người tôn’ nên nhằm nhò gì chuyện nhỏ, các vị tùy tiện có chi đâu.

Riêng về quân phục, chúng ta phải học ở quân đội HK: ‘ngoài qui định, từ thống tướng tới binh sĩ, không ai đeo thừa, mang thiếu một qui định gì so với đồng ngũ, đồng cấp’. Sự đồng nhất triệt để tới cả mức gọng kính cận, đồng hồ đeo tay cũng không khác nhau. Chắc các chiến hữu còn nhớ chuyện một vị tướng HK, ông đã đeo một huy chương trên đó có thêm ngôi sao nhỏ bị người chê sai, người bênh vực đúng nhưng ông vẫn tự sát vì sự kiện này. Tất nhiên qui tắc nào cũng có ngoại lệ hay linh động vì mục đích chung nào đó. Chẳng hạn trên chiến phục ngay cấp hiệu cũng phải mang cách thức ngụy trang, nhưng trong dịp quốc khánh, kỷ niệm quân lực… các đơn vị mặc chiến phục diễn hành vẫn đeo đầy đủ cấp hiệu, dây biểu chương, huy chương thòng… để thêm oai dũng khác ngày thường. Khi mới thành lập, chúng ta còn đi giầy đinh (có đinh ở đưới) gọi giầy ‘săng đá’ (do chữ Pháp soldat – quân nhân), bước đi gây tiếng cồm cộp. Những toán hầu kỳ, chào kính còn mang ‘ghệt’ (guêtre) trắng bằng da hay vải bố để túm ống quần lại cho gọn, đẹp. Hành quân dùng giầy bố. Sau này dùng giầy ‘sô’ (botte de saut) cột dây, có nhiều loại khác nhau. Những quân nhân nhân nào diện còn cắt ống giầy gắn ‘fermeture’, nhưng khi đổi giầy có thể bị phạt vì làm hư quân trang. Giống như một Quận kiêm Chi Khu Trưởng vì nhu cầu an ninh đã sơn xe Jeep mầu dân sự, khi đổi xe đã phải phạt và đền tiền sơn lại như mầu nguyên thủy. Những năm sau này, thêm nhiều quân binh chủng được thành lập nên ngoài chiến phục của bộ binh, có nhiều kiểu và mầu sắc đặc thù riêng rất oai hùng như phi bào (KQ), quân phục trắng (HQ), Dù, TQLC, BDQ… Đây cũng là một trong những nét khác biệt của từng mầu cờ sắc áo. Sau 75 trong tù cải tạo, anh em chúng ta nhiều khi vẫn được mặc hoặc chính VC phát quân phục của chúng ta nhưng bắt phá bỏ túi, thay đổi kiểu nhưng tuyệt nhiên không cho mặc hay phát các đồ bông. Sau này mới hiểu chúng vẫn rất ‘rét’, bị ám ảnh khi thấy hình bóng các thiên thần mũ đỏ, cọp biển… chẳng khác nào theo Bảo Ninh trong Nỗi Buồn Chiến Tranh: ‘nhiều cán binh sống sót về lại miền Bắc không dám đứng dưới quạt trần vì còn ngỡ cánh quạt trực thăng săn đuổi.’

Ngoài ra mũ của chúng ta cũng thay đổi rất nhiều. Xưa kia, mũ ‘béret’ kaki vải rất rộng (miền Bắc gọi mũ bánh đa), hoặc đen, phía gáy có tua vàng đỏ. Mũ ‘calot’ xám, đen, trên đỉnh xẻ đôi có hai mầu xanh đỏ lớn hơn KQ. Mùa nắng đi ‘chapeau de brousse’ mũ vải cứng rộng vành (hơi giống quân nhân Úc), một bên vành mũ bấm gọn lên để khỏi vướng khi vác súng. Sang thời cộng hòa, ‘béret’ xám đi theo quân phục số 2. Trên mũ có huy hiệu tròn khác mầu tùy mỗi hàng binh sĩ, HSQ,SQ. Sau đảo chính 63, thường mặc ‘tréllis’ nên mũ vải lúc đầu cứng (như képi), sau như ‘casquette’ có múi, nhiều Tướng Tá ‘làm dáng’ tay mũ cũng gắn nhành dương liễu như ‘casquette’ đại lễ. Mũ sắt hai lớp dù nặng nhưng rất an toàn, có lưới gài lá ngụy trang nhưng lại dễ bị vướng, móc. Bao bằng vải rằn ri hay vẽ lên như BĐQ cũng tiện. Bảng tên được gắn liền trên chiến phục hay đeo bên nắp túi áo phải quân phục số 2, không kể cấp hiệu, phù hiệu được mang đầy đủ trên quân phục như sẽ đề cập phần sau. Chỉ riêng việc này đã làm mất tính bí mật quân sự. Địch dễ dàng nhận diện hay trên xác tử sĩ để lại chiến trường đủ tình trạng quân vụ (đơn vị, cấp bậc…) ngoài những cáo phó, chia buồn, góp vui đầy trên báo chí. Ngoài cổng doanh trại ghi đủ hệ thống thống thuộc, đơn vị đồn trú. Trong khi VC đến khi chiếm trọn miền Nam, trước cổng cũng chỉ có tấm bảng ‘doanh trại quân đội nhân dân’. Như vậy bài học vỡ lòng ‘che dấu, ẩn nấp’ để ‘ta thấy địch, địch không thấy ta’ trở thành hài hước.

                Hết phần một.