Quân Phục, Cấp Hiệu, Huy Hiệu, Huy Chương từ Quân Đội Quốc Gia đến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. (Phần 2)

Cấp Hiệu
Cấp hiệu là qui ước có hình thức tuy nhỏ, đơn giản nhưng biểu lộ quyền chỉ huy tuyệt đối với thuộc cấp. ‘Huynh đệ chi binh’ là mối tương quan trong đời quân ngũ, nhưng trong hệ thống quân giai, chỉ khác một vạch, mầu sắc bạc vàng đủ cho thuộc cấp phải nghiêm cứng người, đủ để tuân lệnh nhẩy vào lửa đạn.Từ khi thành lập quân đội QG, cấp hiệu được gọi bằng ‘lon’ (galon trong Pháp ngữ) hoàn toàn như quân đội Pháp cho tới thời CH được thay thế hơi theo kiểu Mỹ. Nhiều buổi tổ chức đốt bỏ cấp hiệu cũ, cùng thời với việc đốt bỏ những bộ bài, bàn đèn á phiện, sách báo khiêu dâm… Đây là sự kiện thiếu tế nhị trong chánh sách ngoại giao tiếp theo việc đoạn giao với Pháp. Trước đó, hoàn toàn như Pháp nên cấp hiệu đều dùng vạch vàng thẳng trên ‘lon’ SQ, ngoại trừ thiết giáp binh (kỵ binh) dùng vạch trắng. Từ ‘adjudant’ (ông ‘ách’) đều vạch thẳng ngân tuyến, kim tuyến có sợi chỉ đỏ chạy dọc, ‘aspirant’ (chuẩn úy) 2 sợi chỉ đen ngang, lên tới hết cấp tá vẫn dùng vạch. Tiếng Việt, lúc đó chúng ta thường gọi quan Một quan Hai… Tới quan Tư, vạch thứ tư cách xa để phân biệt từ cấp này là SQ cao cấp (officier supérieur), dưới đó chỉ là SQ cấp thấp (officier subalterne).Trên quan Tư có quan Năm khoanh trắng (lieutenant colonel) với 5 vạch (3 vàng, 2 trắng) và quan Năm khoanh vàng (colonel) 5 vạch đều vàng. Cấp Tướng mang sao (từ 2 sao trở lên). HSQ và binh sĩ mang vạch hình chữ V ngược vàng, đỏ nơi cánh tay.

Người viết không rõ các danh xưng Tá, Úy do ai trong Bộ QP hay TTM đặt ra, riêng danh xưng các cấp Hạ Sĩ, Trung Sĩ, Thượng Sĩ xuất xứ từ lực lượng Bảo Chính Đoàn (Bắc Việt) đặt ra trước cùng lúc với các Hoa Mai của cấp SQ Bảo Chính Đoàn trong khi SQ chánh qui vẫn còn đeo ‘lon’ hoàn toàn như SQ Pháp. Xin được mở dấu ngoặc nói thêm về cấp hiệu của BCĐ/BV. Bảo Chính Đoàn là lực lượng quân sự cấp Phần, trực thuc Thủ Hiến. Ngay khi thành lập cấp chỉ huy hoàn toàn Việt Nam, không có một SQ hay HSQ Pháp nào. Tư Lệnh Phó BCĐ (có lúc gọi Phó Giám Đốc) là Đốc Quân Đoàn Chí Khoan (sau này là Đại Tá, Phụ Tá Tổng Trưởng Phát Triển Sắc Tộc). Ông Đoàn Chí Khoan có thể coi như người soạn thảo sơ đồ tổ chức BCĐ, tất nhiên có phần quân phục, cấp hiệu, phù hiệu. Có thể ông được ảnh hưởng tổ chức quân đội Trung Hoa (QDĐ) và tổ chức hành chánh nên dùng các danh xưng Đốc Quân và Phó Đốc Quân cho SQ cấp Tá và Úy. Mỗi cấp có ba hạng: Phó Đốc Quân hạng ba, hạng hai và hạng nhất. (tương đương Thiếu, Trung, Đại Úy), và Đốc Quân cũng có 3 hạng. Trên hết là Chánh Đốc Quân (như cấp Tướng, nhưng chưa có ai được phong). Tư Lệnh BCĐ đầu tiên là Đốc Quân hạng 2 Hoàng Văn Tỷ (sau này là một trong 6 đại tá đầu tiên của QĐQG), Tư Lệnh Phó là Đốc Quân hạng 3 Đoàn Chí Khoan, Giám Đốc trường SQ/BCĐ là Đốc Quân hạng 3 Linh Quang Viên (sau thăng Trung Tướng QLVNCH).

Đốc Quân và Phó Đốc Quân đều đeo hoa Mai bạc (hạng 3 một bông… hạng nhất 3 bông) nằm trên vạch ngân tuyến. Cấp Đốc Quân thêm hai sợi ngân tuyến chạy kèm song song hai bên. Kể cả hàng binh (Bảo Chính Viên) trở lên đều đeo trên vai, nhưng là sợi ngân tuyến, theo hinh chữ V. Điểm đặc biệt là danh xưng Hạ Sĩ, Trung Sĩ và Thượng Sĩ được đặt ngay thời đó và sau này vẫn còn được dùng. Riêng danh xưng Đốc Quân, Phó Đốc Quân không được duy trì vì không thuận tiện (nếu chỉ gọi Đốc Quân sẽ không rõ cấp bậc, gọi thêm hạng lại quá nhiêu khê).

Nhân đây, xin nói về truyền thống, ý nghĩa cấp hiệu. Từ xưa có 3 quân binh chủng đeo cấp hiệu theo truyền thống quốc tế vì thường có tầm hoạt ngoài lãnh thổ, phải theo nhiều luật lệ hàng hải, hàng không gồm hải quân, không quân, thiết giáp binh và lực lượng cảnh sát. Không hiểu lý do nào, khi qui định lại cấp hiệu theo kiểu Mỹ chỉ riêng hải quân được giữ lại. Trái lại Cảnh Sát đổi cấp hiệu theo như quân đội. Trước đây Ngành CS đã có tổ chức qui củ với những ngạch trật như Thanh Tra, Quận Trưởng, Biên Tập Viên, Chánh Phó Thẩm Sát Viên… đến khi Tướng Phong sang chỉ huy, mang theo rất nhiều SQ và có lẽ để tiện việc sắp đặt chức vụ, đã dùng theo cấp bực QLVNCH, bỏ qui chế, cấp hiệu cũ, không quan tâm đến thời gian huấn luyện, thâm niên công vụ. Một Biên Tập Viên cùng trình độ văn hóa và thời gian thụ huấn như một chuẩn úy bộ binh nhưng khi tốt nghiệp mang ngay cấp Đại Úy CSQG. Ngoài ra dù mang cấp bậc như quân đội, CSQG cũng không có thẩm quyền gì với quân nhân lại tạo cho dư luận, CS dễ chỉ trích ‘quân phiệt’, ‘cảnh sát trị’ trong khi chính bộ máy kìm kẹp, phá hoại của VC có tới cấp Bộ Công An.

Sau năm 1955, trước khi cấp hiệu các lực lượng quân sự địa phương chính quy hóa, Bảo An Đoàn mang cấp hiệu riêng như BCĐ Bắc Việt trước kia. Vì thiếu thống nhất nên dễ ngộ nhận nhất là khi xuất ngoại. Thiếu Úy Bảo An đeo bông hoa thị bạc 6 cánh, trông vừa giống hoa mai, vừa giống sao, lại thêm hai nhánh lúa ôm hai bên trông như hai nhánh thiên tuế. Khi du học, du hành quan sát sĩ quan đồng minh kể cả cấp Tá cũng như huấn luyện viên, một điều ‘Yes, Sir’ hai điều cũng ‘Yes, General’ với Thiếu Úy và còn chào kính ‘túi bụi’ vì nghĩ thầm ít gì cũng Chuẩn… Tướng.

Trở lại cấp hiệu SQ thời đệ nhất cộng hòa, cấp Tá mang mai bạc lớn hơn, Úy mai vàng, nhưng từ xa khó nhận ra, nên sau này thêm hàng lá thiên tuế kèm theo mai bạc cấp Tá. Cũng từ thời Tướng Nguyễn Khánh, lập thêm cấp Chuẩn Tướng (một sao) vì muốn cho Hội Đồng Tướng Lãnh đông hơn, nhiều hậu thuẫn, tạo thành lớp ‘tướng trẻ’ dễ dàng khống chế lớp ‘tướng không trẻ’ hoặc dễ áp lực cho đi ‘đại sứ’. Đó là thời ‘loạn tướng’. Đề cập đến ‘loạn tướng’ thiết nghĩ phải nói đến qui chế Tướng Lãnh một cách đúng truyền thống quốc tế. Khi đã bước lên hàng Tướng, cấp bậc có tính cách trọn đời ngay cả khi đã bỏ binh quyền, đời quân ngũ. Vì vậy không có thể gọi là Cựu Trung Tướng, Cựu Thiếu Tướng… mà là Trung Tướng NVT, cựu Tổng Thống VNCH, Thiếu Tướng NCK, cựu Phó Tổng Thống…. Hoặc khi họ đáo hạn tuổi giải ngũ, dời bỏ binh quyền cũng vẫn dùng cấp bậc Tướng Lãnh, chỉ thêm chữ Hồi Hưu như General Westmoreland (Ret). Quân đi vẫn phải đãi ngộ Tướng Lãnh với đầy đủ qui chế, nghi lễ: lương bổng, quân phục, cấp hiệu, tướng kỳ, tùy viên, hộ tống, chào kính… ngoại trừ binh quyền.

Ngoài ra, tưởng cũng nên nhắc đến một số cấp hiệu, phù hiệu của các lực lượng đồng minh tham chiến tại VN trước kia. Ngoài những gì theo truyền thống quốc tế như mỏ neo với hải quân, cánh bay không quân, chữ thập quân y… có những đặc thù riêng như khối Liên Hiệp Anh (Úc, Tân Tây Lan…) với vương miện (Crown), Thái Lan trọng bảo tháp (Phật), dành cho hàng Tướng, sao cho cấp Tá, Úy.
Nhiều người khen quân quân phục HK đẹp, qui củ nhưng cấp hiệu không ý nghĩa. Thật ra, HK lấy biểu hiệu từ thấp lên cao: cấp Thiếu và Trung Úy đeo vạch vàng, trắng và Đại Úy 2 vạch trắng là kim loại còn nằm sâu dưới đất. Lên cấp Tá trên cao hơn với lá vàng, trắng. Đại Tá đeo hình chim đại bàng, tung cánh trời cao, đầu đàn… (thường dùng danh hiệu đại bàng). Ngôi sao sáng hàng Tướng Lãnh mang biểu hiệu cao tột đỉnh, dẫn đạo, chỉ huy.

Ngược lại thời gian mang cấp hiệu theo kiểu Pháp kể cả lúc sau này, cấp hiệu đeo trong đại lễ phải đầy đủ, tiểu lễ và thường ngày đeo giản lược trên vai áo. Hàng Trung Sĩ trở xuống đeo hinh chữ V ngược nơi tay áo. Có tài liệu cho đó là tượng trưng cấp chỉ huy gánh vác trọng trách (SQ, HSQ cao cấp), còn hàng HSQ cấp thấp tuy chỉ huy nhưng thẩm quyền nhỏ hẹp. Cấp hiệu thời đó không đeo trên ve áo như sau này, trái lại quân đi Pháp còn qui định những tướng lãnh cao cấp lại được phong thêm các cấp hiệu binh nhất, hạ sĩ, trung sĩ danh dự mang trên ve áo hay tay áo. Như Đại tướng De Lattre, được đeo thêm cấp hạ sĩ nhất danh dự, Trung tướng Cogny thêm cấp hạ sĩ. Đây là qui định chính thức như chức Huyện, Phủ hàm thời trước, không như cách vui chơi khi có người gọi một ca sĩ là hạ sĩ danh dự. Chúng ta có một danh từ chỉ chức vụ rất đặc thù là chức Tư Lệnh cho cấp chỉ huy các đại đơn vị (commandant en chef/ commander-in-chief) thay vì Chỉ Huy Trưởng. Nguyên nghĩa ‘tư lệnh’ nói lên sự toàn quyền ban phát lệnh thay vì chỉ chuyển lệnh từ cấp trên xuống như cấp chỉ huy trưởng.

Huy Hiệu, Huy Chương

Huy hiệu, phù hiệu mang trên quân phục chỉ rõ đơn vị trực thuộc. Nhiều khi còn dùng thêm khăn quàng trong các buổi lễ để rực rỡ cho mầu cờ sắc áo, hoặc các ‘nơ’ màu để dễ nhận bạn. Thời phôi thai, quân đội mới có đến cấp tiểu đoàn, nên phù hiệu đeo dưới nắp túi ngực phải, bằng kim loại chế tạo từ Pháp. Ngoài ra còn được làm nhỏ để gắn trên bút nịt, vật dụng tùy thân (hộp quẹt, hộp thuốc…). Các quân trường Võ Khoa Thủ Đức, Liên Quân Đà Lạt… cũng có phù hiệu riêng, nhiều khi đeo ngay trên cầu vai (épaulette). Sau này khi thành lập được các đại đơn vị, binh chủng… phù hiệu bằng vải đeo cánh tay trái trên cao, đằng trước ngực dành đeo phù hiệu đơn vị nhỏ. Trên quân phục, chúng ta còn đeo thêm các bằng chuyên môn… như bằng Rừng Núi Sình Lầy, bằng Dù, cánh Bay…

Quân đội có nhiều hình thức tuyên dương, ban thưởng cho toàn đơn vị, cá nhân như các dây biểu chương, huy chương. Trước kia, chúng ta chỉ có Croix de guerre, Médaille d’honneur… của Pháp, nhiều loại được lãnh phụ cấp hàng tam-cá-nguyệt. Sang thời chính thể QG, Quốc Trưởng ban thưởng Bảo Quốc Huân Chương là huy chương cao trọng nhất với năm hạng, trên mặt Bảo Quốc chạm nổi hàng chữ Tổ Quốc Tri Ân. Thể thức cấp thưởng rất khó khăn đòi hỏi những chiến công hiển hách, thành tích lớn lao đối với tổ quốc, dân tộc. Nghi thức trao gắn rất long trọng, quân nhạc cử điệp khúc quốc thiều, người được ân thưởng tay nâng huân chương để nguyên thủ quốc gia chào kính. Nếu phạm trọng tội, trước khi truy tố phải có sắc lệnh thu hồi. Nếu khinh tội có thể được miễn tố hoặc giảm khinh. Đối với hạng nhất, nếu tôi nhớ không lầm chỉ có 3 người sinh thời được ban thưởng là Bảo Long, Hoàng Thái Tử kiêm Tư Lệnh danh dự Ngự Lâm Quân. Kế là Đại Tướng De Lattre, Cao Ủy kiêm Tổng Tư Lệnh quân đi LHP tại Đông Dương, nhờ chiến thắng Vĩnh Phúc Yên 1951. Sau này Thống Tướng Lê Văn Tỵ khi gần mất mới được phong Thống Tướng và ân thưởng đệ nhất đẳng. Đại Tướng Đỗ Cao Trí chỉ được truy thăng Đại Tướng và truy tặng đệ nhất đẳng sau khi tử trận. Anh Dũng Bội Tinh, chạm chữ Quốc Gia Lao Tường với nhành dương liễu và sao vàng, bạc, đồng do sự khác biệt giữa SQ, HSQ, BS về chiến công và phạm vi tuyên dương trước quân đội hay chỉ trước cấp Lữ Đoàn, Sư Đoàn. Ngoài ra, sau này cùng với sự lớn mạnh của quân đội, chiến trận gia tăng rất nhiều huy chương thuộc các quân binh chủng được ban thưởng. Quân Công, Quân Phong, Quân Vụ Bội Tinh, Lục Quân Huân Chương, Hải Vụ, Phi Vụ, Chiến Thương… chưa kể huy chương của nhiều quốc gia, quân lực đồng minh cũng trao tặng.

Riêng về dây biểu chương có ba hạng mang tên mầu: Anh Dũng, Quân Công, Bảo Quốc và trên hết là dây biểu chương mầu Tam Hợp. Để được tưởng thưởng mầu Tam Hợp đòi hỏi toàn thể đại đơn vị phải lập chiến công và ít nhất phải được tuyên dương công trạng cấp quân đội từ 3 lần trở lên.

Huy chương khi được ban thưởng, ngoài văn thư có một bằng treo, không kể huy chương (thòng, ngắn). Khi mang huy chương cũng phải tuân theo các cách thức qui định. Huy chương cao hơn phải đeo từ trong phía ngực trái ra ngoài, hàng trên xuống dưới. Riêng Bảo Quốc Huân Chương, đệ ngũ và tứ đẳng dù thấp nhất trong Bảo Quốc nhưng vẫn phải xếp trên cùng, đệ tam đeo dây vòng qua cổ, đệ nhị một bên cạnh sườn và đệ nhất vắt ngang vai. Trong tiểu lễ, huy chương mang dưới dạng đơn giản (chỉ có phần cuống). Với dạ phục mang huy chương thòng nhưng thu nhỏ. Các dây biểu chương cũng thu lại bằng như một huy chương ngắn, đóng khung vàng, đeo riêng trên cùng. Ngoài ra trên Quân Kỳ các quân, binh chủng, đại đơn vị, cũng sẽ gắn các dây biểu chương và huy chương đã được ban thưởng. Với huy chương của các quốc gia đồng minh, phải có sự chấp thuận trước hoặc phải được hợp thức, quân nhân đương sự mới được mang.
Các cấp hiệu, huy hiệu, phù hiệu… vì không được tuyển chọn kỹ lưỡng nên thường hay thay đổi, gây tốn kém cho quân nhân, chỉ có lợi cho các nhà sản xuất, buôn bán như Phước Hùng, An Thành…